Con ông cháu cha: sự bất bình đẳng về cơ hội
Trên lý thuyết, khoa cử triều Nguyễn là bình đẳng. Ai cũng được đi thi, trừ những người thuộc tầng lớp "xướng ca vô loài" hay phạm tội. Nhưng thực tế thì con quan lại có tỷ lệ đỗ đạt cao hơn hẳn dân thường.
Theo ước tính, chỉ có khoảng 5-10% (thậm chí thấp hơn) vị khoa bảng xuất thân từ dân thường, lao động nghèo ở tầng lớp thấp. Dân lao động khó lòng vươn lên trừ khi lập đại công về quân sự như chống giặc hoặc khẩn hoang, ví dụ như Nguyễn Tri Phương hay Lê Văn Duyệt.
Lý do không hẳn nằm ở sự ưu ái hay gian lận, mà dường như con nhà quan "sinh ra đã ở vạch đích". Dưới đây là 5 lý do chính tạo ra sự bất bình đẳng đó.
1. Lợi thế về Kinh tế: "Có thực mới vực được đạo"
Đi học ngày xưa cực kỳ tốn kém và mất thời gian.
Nhà quan có điều kiện kinh tế đầy đủ hơn nhà dân lao động nghèo nhiều. Những vị quan lớn với chức vụ càng cao thì lương bổng triều đình chu cấp càng khá.
Gia đình có bổng lộc, có ruộng đất, chẳng thiếu người hầu kẻ hạ. Con cái không phải lo chuyện cơm áo gạo tiền, chỉ việc tập trung hoàn toàn vào việc học từ sáng đến tối.
Ngược lại, người dân lao động nghèo quanh năm đầu tắt mặt tối, cày thuê cuốc mướn vẫn không đủ ăn.
Một gia đình nông dân cần nhân lực để cày cấy. Việc cho một người con trai thoát ly sản xuất hoàn toàn chỉ để "nấu sử sôi kinh" trong 5-10 năm là một gánh nặng kinh tế khổng lồ. Nhiều người tài phải bỏ dở giữa chừng về đi cày vì nhà hết gạo.
2. Sự khan hiếm của Sách vở
Ngày nay sách vở tràn lan bao gồm sách giấy và sách điện tử online, nhưng ngày xưa điều kiện in ấn rất hạn chế nên sách vở in ra ít và khó mua. Sách in (bản khắc gỗ) rất đắt và hiếm.
Người xưa có câu "Thư hương thế gia", nghĩa là tủ sách gia đình ("hương thơm của sách") nói lên được địa vị và danh tiếng của một dòng họ tri thức. Vì vậy những vị quan và nhà nho xưa thường có ý thức sưu tầm và tích luỹ sách vở làm tài liệu học tập cho con cháu. Hầu hết các gia đình khoa bảng đều có một thư viện riêng của gia đình.
Cha ông họ đi sứ, đi kinh lý mang được nhiều sách quý, sách lạ từ trong Nam, ngoài Bắc và cả từ Trung Quốc về. Việc được tiếp cận nhiều nguồn sách hay và quý giúp họ mở mang kiến thức và tầm nhìn hẳn ra.
Ngược lại, học trò nghèo thường phải đi mượn sách chép tay lại, học lỏm, hoặc thầy đọc trò chép. Tài liệu rất thiếu thốn.
3. Môi trường gia đình và "Gia học"
Đây là yếu tố văn hóa cực kỳ quan trọng tạo nên những "Dòng dõi khoa bảng".
Con quan sống trong môi trường mà cha chú đều là người hay chữ. Những câu chuyện hàng ngày trong bữa ăn đều xoay quanh văn chương, thế sự, phép tắc ứng xử... giúp họ thẩm thấu tư duy của người làm quan từ bé.
Ở triều Lê, con các quan sẽ được tuyển vào Chiêu văn quán (đổi từ Sùng văn quán trước đây). Vậy nên con trai của các quan này được gọi là "cậu ấm", "cậu chiêu". Về sau "cậu ấm, cô chiêu" được dùng để chỉ cả con trai, con gái nhà quan nói chung (đã có cậu thì ắt phải có cô cho "xứng đôi vừa lứa").Ngoài ra, cha ông họ từng trải qua các kỳ thi, biết rõ "gu" chấm bài của triều đình, biết cách viết văn sao cho hợp ý các vị giám khảo, tránh phạm húy. Đây là những "bí kíp" mà thầy đồ ở quê khó mà biết hết được.
Truyền thống hiếu học, không khí học thuật, kinh nghiệm "thực chiến", và văn hóa gia đình nói chung là những điều mà người dân thường không bao giờ có được.
4. Tiếp cận nền giáo dục tinh hoa
Thời xưa, việc tìm được thầy giỏi ("Minh sư") quyết định phần lớn sự thành bại trong khoa cử. Các quan lớn thường có bạn bè là những đại nho nổi tiếng. Nếu quá bận rộn, họ dễ dàng gửi con cái đến trọ học nhà bạn bè, hoặc mời thầy giỏi về nhà dạy riêng (gia sư), dùi mài kinh sử cho đến khi đỗ đạt.
Học trò nghèo muốn theo thầy giỏi phải "khăn gói quả mướp" đi xa, vừa học vừa làm thuê kiếm sống, rất vất vả.
Ngoài ra, con các vị quan to còn được "ấm sinh" - đặc cách vào học tại Quốc Tử Giám - trường Đại học duy nhất của quốc gia ở Huế.
Tại đây, họ được dạy bởi các Tế tửu, Tư nghiệp - những giáo sư giỏi nhất đất nước, thường là những Tiến sĩ lừng danh một thời.
Dân thường chỉ học thầy đồ ở làng hoặc trường huyện, trường tỉnh. Chất lượng đào tạo giữa "trường làng" và "trường Quốc gia" đương nhiên có khoảng cách lớn.
Gia đình trung lưu
Rất nhiều người không phải là con quan nhưng sinh ra trong gia đình có truyền thống nho học hoặc khá giả, có đất đai thì đều có được những lợi thế kể trên. Những gia đình này tạo nên nhóm "trung lưu phong kiến" và cũng có được nhiều ưu thế hơn hẳn so với những người dân lao động nghèo.
- Nguyễn Khuyến lớn lên trong một gia đình học thức. Cả ông ngoại và nội đều từng đổ tú tài và làm nghề dạy học
- Phạm Phú Thứ sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, nhưng được Tùng Thiện vương - con trai thứ 10 của vua Minh Mạng dạy dỗ, nâng đỡ.
5. "Môn đăng hộ đối" & "Danh gia vọng tộc"
Còn một lý do khá quan trọng nhưng ít được nói tới, đó là việc hôn phối của các vị cậu ấm, cô chiêu.
Theo quan niệm xưa, vợ chồng căn bản phải có chung "hệ quy chiếu" mới có thể hoà hợp lâu dài. Còn những người không cùng "đẳng cấp" sẽ có quan điểm bất đồng, dễ tạo nên xung đột khiến đời sống hôn nhân gia đình trục trặc, rạn nứt.
Vậy nên những gia đình "chức cao vọng trọng" sẽ thường thông gia với những gia đình tương đương như vậy. Vậy là những ưu thế cho con cái kể trên dường như được nhân lên gấp bội từ gia đình 2 bên nội ngoại.
Ngoài "Môn đăng hộ đối", trong chuyện hôn nhân còn có quan niệm là phải “lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống”. Nề nếp, gia phong vào đạo đức của (gia đình) người vợ, cũng như sức khỏe, thể chất của người chồng sẽ ảnh hưởng đến con cái sau này.
Con cháu của các vị quan khoa bảng này sinh ra sẽ có được tư chất thông minh của cha ông hai bên nội, ngoại. Cộng với những yếu tố về kinh tế và truyền thống gia đình kể trên, những vị "con ông cháu cha" này sẽ học giỏi, đỗ đạt và nối được nghiệp ông cha, đem lại danh giá cho gia đình, dòng họ.
Lấy gia đình Tiến sĩ Hoàng Hữu Thường làm ví dụ. Con trai thứ 2 của ông là Hữu Điềm lấy Trận Thị Cơ con Chánh Điện Đại học sĩ Trần Tiễn Thành. Con trai thứ 9 là Hữu Tố lấy Công nữ Như Cơ - con gái Kiên Thái Vương.
Nguyễn Phúc Hồng Cai, tôn hiệu Kiên Thái vương, là hoàng tử con vua Thiệu Trị và cũng chính là phụ thân của ba vị hoàng đế liên tiếp của triều Nguyễn, là Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh.Và chúng ta có thể tìm được rất nhiều ví dụ tương tự trong chốn quan trường. Con trai các đại thần, như Trương Đăng Quế, lấy công chúa và trở thành Phò mã. Con gái được gả vào cung làm vợ vua, như Hoàng Thái hậu Từ Dụ là con của Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng. Cùng với đó là rất nhiều mối quan hệ thông gia giữa các đại thân với nhau để giữ gìn nề nếp gia phong - "Rau nào sâu nấy".
Tóm lại
Con quan đỗ đạt nhiều hơn không hẳn vì họ thông minh hơn hay được ưu ái chấm lỏng tay, mà vì họ có "xuất phát điểm" tốt hơn quá nhiều. Họ có thời gian, hậu thuẩn lớn về cả tài chính, sách vở và thầy giỏi từ cả 2 bên gia đình nội ngoại.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, các vị con quan này cũng phải chịu khó học hành nghiêm túc, thi cử đổ đạt thì mới tiếp tục giữ được những chức vị cao trong triều đình, tạo nên những "dòng dõi khoa bảng", chứ không phải luôn được "cơ cấu" hay ở trong "biên chế" trọn đời.
Đại đa số những cậu ấm, cô chiêu còn lại vẫn chỉ là thường dân mà thôi. Cũng như những "cậu cả" được “ấm thụ” thì phần lớn đều đì đẹt ở những chức quan cấp thấp ở phủ, huyện - "thường thường bậc trung" mãi không thăng tiến được.
Qua những phân tích trên, chúng ta thấy được, để thành công những người dân lao động nghèo không chỉ phải vượt khó, vượt qua chính mình, mà còn phải vượt qua những bất bình đẳng về cơ hội trong xã hội xưa.
Tuy nhiên, lịch sử triều Nguyễn vẫn ghi nhận một số ít tấm gương "Cá chép hóa rồng". Những người xuất thân bần hàn, nhờ nghị lực phi thường mà đỗ Đại khoa, làm quan to như Tiến sĩ Hoàng Hữu Thường, Trần Quý Cáp. Chính những tấm gương này đã nuôi dưỡng giấc mơ đổi đời bằng con đường học vấn cho hàng triệu sĩ tử nghèo thời xưa.