Hoàng Hữu Thường: Dấu ấn lịch sử của vị Tiến sĩ xuất thân từ Vạn đò

Hoàng Hữu Thường (1843–1888) không chỉ là một trong những vị Tiến sĩ hiếm hoi xuất thân từ tầng lớp lao động nghèo, mà còn là một nhân vật sở hữu sự nghiệp quan trường đặc biệt dù khá ngắn ngủi dưới triều Nguyễn. 

Câu chuyện của ông là minh chứng cho nghị lực học tập phi thường có thể tạo nên lịch sử không chỉ cho riêng cá nhân và cả cho cả cộng đồng quê hương ông.

Hãy cùng điểm qua 8 điểm đặc biệt ít được biết đến của vị Tiến sĩ họ Hoàng này.

1. Vị Tiến sĩ Xuất Thân Từ Kẻ Vạn

Xuất thân trong một gia đình kẻ vạn, nhiều đời bôn ba sông nước, làm nghề chài lưới, Hoàng Hữu Thường cùng nhiều thế hệ gia đình sống chen chúc trên con thuyền nhỏ ở xóm vạn chài Quảng Tế. Dân “thủy diện” như ông luôn bị coi thường là một trong những tầng lớp thấp nhất trong xã hội phong kiến.

 Từ thời chúa Nguyễn, những cư dân quần tụ trên Phá Tam Giang thường được gọi là “người thủy diện” (người sống trên mặt nước) hay “dân vạn đò” (1 nhóm dân cư từ 25-40 thuyền tạo thành 1 vạn). Họ hình thành một lối sống biệt lập, lấy đò ghe làm không gian sinh tồn chính, duy trì bản sắc và tính cách lang bạt, tạo nên những khu vực cư trú mang tính lãnh thổ riêng biệt.

Tuy nhiên, địa vị xã hội của họ lại vô cùng thấp kém và nghiệt ngã. Xét về mặt hành chính, người thủy diện không được xã hội thừa nhận và thường bị ví như "những đứa con hoang" trong cơ cấu nhà nước. Sự kỳ thị này bắt nguồn từ tư tưởng "dĩ nông vi bản" (lấy nông nghiệp làm gốc) của xã hội phong kiến. Quan niệm này coi các nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là ngư nghiệp, là nghề mạt hạng (thấp kém nhất). Dưới ánh nhìn ấy, người thủy diện bị xã hội coi khinh, miệt thị, bị gán cho là tầng lớp "ăn bám" hoặc "ký gửi".

Hậu quả của quan niệm khắc nghiệt này là người vạn đò không được đăng ký hộ tịch (không có tên trong sổ bộ chính thức của làng xã), khiến họ mất đi quyền công dân cơ bản. Bi kịch kéo dài đến tận khi qua đời, khi họ không được chôn cất trên đất liền, thể hiện sự phân biệt đối xử sâu sắc, phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của họ trong thế giới hữu hình.

Nhưng bằng sự quyết tâm và nỗ lực học hành vượt lên mọi khó khăn của hoàn cảnh, Hoàng Hữu Thường đã ghi tên mình vào bia Văn Miếu và lịch sử Khoa bảng triều Nguyễn.

Việc ông đỗ Giải nguyên (1873), rồi Hội Nguyên và trở thành Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân (1875) là một kỳ tích, nhanh chóng đi vào ca dao Huế:

"Cha chài mẹ lưới trên sông,
Thằng con thi đậu làm ông trên bờ."

Sự đỗ đạt này không chỉ thay đổi vận mệnh cá nhân mà còn đặt nền móng cho công lao vĩ đại nhất của ông (sẽ được đề cập ở mục sau).

2. "Hữu" Thường

Trong giai đoạn đất nước nhiều biến động, Hoàng Hữu Thường được giao nhiều trọng trách lớn, không chỉ nhờ tài năng mà còn nhờ đức độ. 

Vua Tự Đức đã từng nhận định về ông như sau: “Trong Triều chắc chỉ có nhà ngươi là không có lòng tham, nay ta gọi ngươi là Hoàng Hữu Thường thay vì Hoàng Ngọc Thường!” Chữ “HỮU” nghĩa là “chỉ có”. Hàm ý của nhà vua: trong Triều đình chỉ có ông Thường là một ông quan liêm khiết, chí công vô tư. Từ đó con cháu của ông đổi chữ lót “Hoàng Ngọc” thành “Hoàng Hữu”!

Dù xuất thân từ tầng lớp thấp, ông vẫn luôn giữ được sự thanh liêm và chính trực, điều này giúp ông được vua Tự Đức, Đồng Khánh và các quan đại thần luôn tin tưởng.

3. Thượng Thư “Lục Bộ”: Đỉnh Cao Quyền Lực

Chỉ trong khoảng 10-13 năm làm quan, Hoàng Hữu Thường đã thăng tiến nhanh chóng, nắm giữ các chức vụ cấp cao trong cơ quan quyền lực nhất của triều đình.

Khởi đầu khiêm tốn từ một nhà biên soạn văn thư (Hàn Lâm Viện Biên tu), ông nhanh chóng được bổ thành Viên ngoại lang, Binh bộ Biện lý, Nội các Tham biện, phó Khâm sai Đại thần, Tham tri, rồi Thượng thư đứng đầu 1 bộ.

Đặc biệt, ông từng đồng thời giữ chức vụ cấp Thượng thư tại nhiều bộ, thể hiện sự đa tài và tin cậy của triều đình đối với ông:

Việc một vị quan gần như cùng lúc được giao quản lý cả Bộ Công (xây dựng, đê điều), Bộ Binh (quân sự) và Bộ Lễ (nghi thức, giáo dục – thông qua Quốc Tử Giám) cho thấy sự trọng dụng đặc biệt của triều đình trong giai đoạn khó khăn của đất nước cuối thế kỷ XIX.

Không chỉ giỏi chính sự, ông còn là người có tầm nhìn xa trông rộng. Năm 1888, trước nhu cầu lượng thực ngày càng tăng ở Kinh đô và tình hình đầu cơ của bọn lái buôn, Thượng thư bộ Binh Hoàng Hữu Thương đã dân sớ và đề xuất lập Kinh mễ cục (cục gạo) để dự trữ gạo, đảm bảo đủ lương thực cho nhân dân, cũng như nước nhà trong những lúc mùa màng khó khăn, sóng gió. Vua rất khen ngợi, nghe lời.

4. Hai Lần Từ Chối Phong Chức - Sự Khiêm Tốn Hiếm Có

Sự nghiệp của Hoàng Hữu Thường còn gây ấn tượng bởi sự liêm khiết, khiêm tốn và tinh thần khiêm nhường tuyệt đối của ông trước danh vị.

1. Thượng Thư Bộ Lại

Mùa hạ tháng 4-7, năm Đồng Khánh thứ 2 - 1887, vua chuẩn cho Thương thư Bộ Binh - Nguyễn Trọng Hợp kiếm trưởng bộ Lại. Nguyễn Trọng Hợp cho rằng mình ở ngoài triều đã lâu, bây giờ thuyên chuyển về e khó khăn. Hiện tại, Hoàng Hữu Thường là người cần cù minh mẫn thông quen công việc, lại từng cai quản bộ Lại, xứng đáng với vị trí đó. Nên ông xin vua cứ để Hữu Thường ở lại bộ Lại, vừa gần với Viện Cơ mật, thuận tiện cho việc tới lui thảo luận về việc thuyên chuyển, lựa chọn quan lại quan trọng cho triều đình.

Khi biết tin, Hoàng Hữu Thường liền dâng sớ xin vua, cho rằng “mình là người Thừa Thiên, có nhiều người thân quyến và quen biết nên nắm giữ việc thuyên bổ rất khó giữ được sự trong trắng. Nguyễn Trọng Hợp là người Bắc Kỳ, vốn có phẩm chất và danh vọng, hồi trước ở bộ Lại đã lâu mà vẫn giữ được sự công tâm trung thực, không có điều tiếng gì. Vậy khẩn thiết cúi xin cho y theo lời dự khi trước, vẫn để vị ấy lãnh chức Thượng thư bộ Lại, còn thần lưu lại ở bộ Binh cho tương xứng.”

Nghe lời tâu bày hợp tình của Hoàng Hữu Thường, vua đã chuẩn cho ông qua làm Thượng thư bộ Binh: “Khanh vốn là người chân chất, làm việc gì cũng có kiến thức riêng hơn người. Huống chi công việc ở bộ Binh vừa trọng yếu, vừa khó khăn, khanh đã từng ở đó, nay trở về nắm giữ việc binh thực không ai hơn…”

2. Hiệp Tá Đại Học Sĩ

Tháng giêng, năm Đồng Khánh thứ 3 - 1888, ông cùng Thượng thư bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp được thăng Hiệp tá Đại học sĩ và Văn Minh điện Đại học sĩ. Cả hai ông đều dâng sớ xin từ chối. Tuy nhiên, lần này vua Đồng Khánh đã không theo.

“Triều đình đặt ra điều lệ khen thưởng là để hậu đãi bậc hiền tài, thu hút người giỏi về phò tá… Hoàng Hữu Thường vốn có học thức cao, làm việc mẫn cán thành thạo, trẫm vẫn thầm khen trong lòng. Các đồng liêu cũng từng suy cử, vậy truyền tuân theo Chỉ dụ trước, chuẩn thăng Hiệp tá Đại học sĩ, ngoài ra vẫn giữ nguyên các hàm như cũ. Khanh phải nghiêm túc tuân theo, không được từ chối nữa, như thế mới không phụ tấm lòng suy cử hậu đãi hết mực của trẫm…”

5. Lãnh Danh Vị Hiệp Biện Đại Học Sĩ (Nhất Phẩm)

Cuối cùng, vào năm 1888, ông được thăng làm Hiệp biện Đại học sĩ, giữ chức Thượng thư Bộ Binh kiêm Quốc Sử Quán (Phó) Tổng tài. Danh hiệu này đặt ông vào hàng quan nhất phẩm (tước vị cao nhất trong triều đình).

Trong suốt 143 năm dưới triều Nguyễn, ước tính chỉ có khoảng 40-60 vị đạt được hàm nhất phẩm (bao gồm chánh nhất phẩm và tòng nhất phẩm). Nhiều vị chỉ đạt được khi về hưu hoặc được truy tặng (hàm danh dự).

Trong 293 tiến sĩ văn ban triều Nguyễn, chỉ có 4 vị Tiến sĩ - tương ứng với chỉ 1,4% đạt được hàm nhất phẩm này. Đây là tỷ lệ thấp nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam, phản ánh chính sách hạn chế quyền lực quan lại văn ban của nhà Nguyễn - vốn tập trung vào vua và Cơ mật viện cũng như ưu tiên hoàng tộc và công thần võ bị như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Bình.

hoang huu thuong - Pho Kham Sai Dai Than tai Ha Noi 5-3-1884
Hoàng Hữu Thường - Phó Khâm sai Đại thần tại Hà Nội. Ảnh chụp ngày 5-3-1884

Điều đặc biệt hơn, Hoàng Hữu Thường đã đạt được vinh quang này chỉ trong vỏn vẹn 13 năm làm quan.

6. Được Tặng Đại Nam Long Tinh - Huân Chương Cao Quý

Sự nghiệp của ông còn được ghi nhận bằng những huân chương cao quý.

Vào cuối năm 1883, Hữu Thường - khi đó còn là Tham biện Cơ mật viên, cùng với 5 viên quan khác được vua ban thưởng huy chương "Long vân khế hội" hạng nhất bằng 1 đồng tiền vàng cùng dải đeo.

Năm 1887, ông là một trong 16 vị quan người Việt (sau vua Đồng Khánh thêm 3 người là 19) hiếm hoi được phong Đại Nam Long Tinh – Đệ tứ hạng (Minh Nghĩa Long Tinh)

Đại Nam Long Tinh là huân chương do triều Nguyễn đặt ra để ban tặng cho những người có công trạng đặc biệt, dựa trên thể thức phong thưởng Bắc đẩu bội tinh của Pháp

Dai Nam Long Tinh Hang Tu

Với việc chỉ có 1 người được xếp hạng nhì, 2 người hạng ba, Hoàng Hữu Thường được xếp thứ 2 ở hạng tư sau 5 người tiền bối của mình. Việc được phong huân chương hạng cao như vậy xác nhận tầm quan trọng của ông trong bộ máy triều đình.

7. “Tổng Võng Nhi” - Lập Làng, Lập Tổng Bằng Con Đường Học Vấn

Đây có lẻ là công lao nhân văn vĩ đại, làm nên sự khác biệt muôn đời của Hoàng Hữu Thường.

Nhờ sự đỗ đạt và ân điển của vua Tự Đức, 20 mẫu đất của làng Nguyệt Biều đã được cắt giao cho vạn chài Quảng Tế, đưa dân lên bờ định cư.

Không chỉ có vậy, là một người xuất thân từ “dân thủy diện”, vị Thượng thư cũng rất thấu hiểu và thương xót những người dân vạn đò đồng cảnh ngộ với mình. Ông cảm thấy có sự thiếu công bằng giữa nông và ngư, nên mới bàn triều đình biên chế toàn bộ người thủy diện ở vùng kinh sư thành một tổng, như một tổ chức đơn vị hành chính trên bộ, gọi là “tổng võng nhi” – nghĩa là con nhà chài lưới.

Căn cứ trên việc tụ cư khắp các lưu vực sông của tam giang, sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, tập hợp đổ ra Phá, biên chế toàn bộ các vạn trên đầm phá và 3 sông đó thành 13 làng, những khu vực vạn sống kế cận nhau người ta xây dựng tổ chức liên vạn - gọi là làng trên mặt nước, làng thủy diện ra đời, các làng nằm trong biên chế tổng võng nhi, từ đó cư dân sông nước bắt đầu có đăng ký hộ tịch.

Chính Hữu Thường vẫn được sử sách ghi nhận là người thôn Quang Tế, “tổng Võng Nhi”, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên theo đúng đơn vị tổng mà ông góp công tạo ra.

Hoàng Hữu Thường là vị Tiến sĩ đầu tiên và có lẽ là duy nhất trong lịch sử triều đại Việt Nam dùng học vấn & công danh của mình để mở đất, lập làng và tạo ra cả 1 tổ chức đơn vị hành chính mới cho cả cộng đồng mà mình xuất thân, giúp hàng ngàn người vạn đò có được cuộc sống tốt hơn.

8. Mất Sớm Ở Đỉnh Cao Sự Nghiệp

Hoàng Hữu Thường qua đời vào tháng 10, năm 1888 không lâu sau khi được thăng thự Hiệp tá Đại học sĩ, khi mới chỉ 45 tuổi,

Một số sử sách và tạp chí hiện nay trích dẫn sai là Hoàng Hữu Thường sinh năm 1837. Tuy nhiên, trong “Hoàng Thị Gia Phổ”, ông tên thật là Hoàng Ngọc Khâm (sau cãi Hữu Thường) sinh vào giờ Mùi, ngày 03/01 năm Quý Mão - Thiệu Trị thứ 3.

Năm Thiệu Trị thứ 3 cũng như Quý Mão vào thế kỉ XIX là năm 1843. Căn cứ vào năm sinh của các anh chị em ông trong Gia phổ thì ông sinh năm 1843 cũng là phù hợp. Nếu sinh vào năm 1837 thì Hữu Thường sẽ lớn hơn anh chị của ông.

Nếu không mất sớm, với khả năng, tốc độ thăng tiến, cũng như sự tin cậy của nhà vua và triều đình, Hoàng Hữu Thường hoàn toàn có thể trở thành Đại học sĩ và tham gia vào Hội đồng Nhiếp chính Đại thần – vị trí quyền lực tối cao trong triều đình. Cái chết sớm đã chấm dứt một sự nghiệp đang ở đỉnh cao vinh quang, cũng như giới hạn đóng góp của ông cho đất nước trong giai đoạn lịch sử hỗn loạn cuối triều Nguyễn.

Giá trị để lại

Tiến sĩ Hoàng Hữu Thường là hình mẫu lý tưởng của người sĩ phu thời đại: có nghị lực cá nhân để vượt lên định kiến xã hội, có tài năng để giữ những trọng trách lớn nhất đất nước, và có tấm lòng nhân hậu để thay đổi cuộc đời của cả cộng đồng. Sự nghiệp của ông, dù ngắn ngủi, vẫn là một chương đặc sắc và đầy cảm hứng trong lịch sử quan chế Việt Nam.