Tiến Sĩ, Thượng Thư, Hiệp Biện Đại Học Sĩ Hoàng Hữu Thường
Trong lịch sử khoa bảng và quan trường triều Nguyễn, có một nhân vật "rất lạ, cực kỳ hiếm thấy"*. Mỗi lần nhắc lại chuyện này, bây giờ ở Huế vẫn còn nhiều người thuộc lòng câu ca dao xưa:
“Cha chài mẹ lưới bên sông
Thằng con thi đậu làm ông trên bờ”
Câu ca dao trên còn có dị bản:
“Cha chài Mẹ lưới con câu,
Có con hay chữ làm quan trên bờ”
Theo như tích cũ, tương truyền câu ca dao này do chính những cư dân vạn đò bao đời sống khốn khổ lênh đênh trên mặt nước dọc sông Hương đặt ra để nêu gương sáng và nhắc nhở con cháu của mình về sự tích một người con dân vạn đò đặc biệt: chịu khó lao động, học hành, quyết chí dùi mài kinh sử, lên bờ thi thố tài năng, chiếm cứ bảng vàng, được khắc tên lên bia Văn Miếu ở kinh thành Huế.
Vị Tiến Sĩ xuất thân từ vạn đò
Chuyện kể rằng, Hoàng Hữu Thường – tên thật là Hoàng Ngọc Khâm sinh năm Quý Mão – Thiệu Trị thứ 3 (1843) trong một gia đình kẻ vạn, nhiều đời bôn ba sông nước làm nghề chài lưới. Đến thời ông, dù rất cần cù nhưng vẫn không có gì khá hơn; cũng chỉ quanh năm vất vả với những việc “không tên” để kiếm ăn qua ngày. Suốt một thời gian rất dài, nhiều thế hệ gia đình ông sống chen chúc trên một con thuyền nhỏ ở xóm vạn chài Quảng Tế. Hàng ngày ngụp lặn, xuôi ngược sông Hương, có khi theo đuổi đánh bắt cá ra tận phá Tam Giang, để rồi tối về neo đậu những con thuyền nhỏ với nhau hình thành nên làng thuỷ diện, chỉ cách kinh thành Huế vài dặm…
Thấm được nổi thống khổ bao đời vì mù chữ, cha mẹ ông đã tìm mọi cách, thắt lưng buộc bụng, cho ông lên bờ tìm thầy thọ giáo lấy cái chữ của đạo Thánh hiền...
Trải qua thời gian khổ luyện, bằng chính sự nỗ lực va ý chí quyết tấm "nấu sử sôi kinh", Hoàng Hữu Thường đã có đủ vốn liếng chữ nghĩa để lều chỏng đi thi.
Năm Tự Đức thứ 26 (1873) khoa Quý Dậu, kẻ vạn Hoàng Hữu Thường đã ứng thi tại trường Thừa Thiên. Kế quả, ông đã đậu giải Nguyên (đậu đầu Cử nhân), lúc ấy vừa tròn 30 tuổi.
Việc đỗ đầu Củ nhân năm ấy đã là một vinh dự lớn cho bản thân, gia đình và cả xóm vạn chài Quảng Tế. Từ đây, ông Cử Hoàng Hữu Thường đã có thể ra đời nhận một chức quan, hoặc khăn gói đi làm nghề dạy học, thoát khỏi cảnh sông nước trôi nổi cực nhọc bấy lâu...
Nhưng không, "ông Cử vạn đò Quảng Tế" không nhận số phận an bài hiện tại, mà lại lao vào con đường học tập, quyết dấn thân đến cùng để được ghi tên mình lên trên bảng vàng danh dự treo trước Ngọ Môn, khắc bia đá Văn Thánh.
Năm Tự Đức thứ 28, tại khoa Ất Hợi, triều đình Huế mở khoa thi Hội, rồi thi Đình. Cùng với sĩ tử cả nước, Hữu Thườn nhập trường để thể hiện tài năng...
Một thời gian sau, ngày yết bảng ở Phu Văn Lâu, người ta thấy tên ông in đậm trên bảng vàng.
Khoa thi này rất đông sĩ tử ứng thi, những triều đình chỉ lấy đổ có 11 Tiến sĩ và 6 Phó bảng.
Hoàng Hữu Thường đứng thứ 6 với hạng Đệ Tam Giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, xếp sau Đình Nguyên Hoàng giáp - Phạm Như Xương, xếp trên Tống Duy Tân thi đỗ cùng khoa. Năm ấy ông vừa tròn 32 tuổi.
Đỗ Tiến sĩ dưới triều vị vua Tự Đức hay chữ, con đường quan lộ từ đây mở ra trước mặt Hoàng Hữu Thường...
Sự Nghiệp
Hoàng Hữu Thường làm quan qua năm (5) triều vua nhà Nguyễn - từ Tự Đức (1847-1883), Dục Đức (1883), Hiệp Hòa (1883), Kiến Phúc (1883-1884), và cuối cùng là Đồng Khánh (1885-1889).
Sau khi đỗ Tiến sĩ, Hoàng Hữu Thường được trao cho chức Hàn lâm viện Biên tu. Sau đó ông được bổ làm Binh bộ Biện lý.
Năm Tự Đức thứ 35 (1882), quân Pháp vây hãm thành Hà Nội. Hữu Thường theo cùng với Khâm sai Trần Đình Túc đi thương lượng lấy lại thành, rồi lĩnh Bố chính sứ Hà Nội. Sau đó ông được triệu về Kinh lãnh chức Tham biện Nội các.
Năm Tự Đức thứ 36 (1883), Trấn Hải thành thất thủ, ông tham dự vào việc nghị hoà. Sau khi hoãn binh, Hoàng Hữu Thường được cử làm Định ước Tham Biện – coi việc ký kết hiệp ước kiêm Chưởng văn thư sự vụ – quản lý văn thư theo lời xin của Hiệp biện Đại học sĩ Trần Đình Túc và Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp - 2 đại diện của triều Nguyễn khi ký kết Hiệp ước Harmand (Hòa ước Quý Mùi) vào ngày 25/8/1883.
Không lâu sau, ông được bổ làm Quang lộc tự Khanh sung biện Các vụ, rồi thăng Tham biện Cơ mật viện vào tháng 11/1883. Hoàng Hữu Thường tiếp tục được thăng thụ Thị lang, tái thự Tham tri bộ Lại, vẫn sung chức Thiếu khanh ở Hồng lô tự.
Cuối năm 1883, ở Bắc kỳ sau khi hữu sự, lòng người ngờ sợ, trộm giặc nổi lên tứ tung. Sứ thần Pháp xin phái viên chức giỏi giang mau đến xử trí. Triều đình cử Đoàn Văn Hội làm Khâm sai đại thần và Hoàng Hữu Thường làm Phó khâm sai đại thần ra Bắc xử lý.
Giữa năm 1884, Hoàng Hữu Thường được phái về Kinh và đổi làm Hữu Tham tri bộ Binh, vẫn giữ chức Tham biện Cơ mật viện.
Cuối năm 1884, vua Sai Thượng thư bộ Hộ là Phạm Thận Duật sung Toàn quyền Khâm sứ, Hoàng Hữu Thường làm Phó, thảo luận với Toàn quyền Khâm sứ Pháp là Lomio thuế lệ về việc khai mỏ.
Tháng 8/1885, sau khi trở về Kinh Đô, Hoàng Hữu Thường được bổ sang Hữu Tham tri bộ Hộ sung Cơ mật viện.
Sau khi vua Đồng Khánh lên nối ngôi vua (19/9/1885), Hoàng Hữu Thường được thăng bạt Công bộ Thượng thư.
Năm Đồng Khánh thứ 1 (1886), ông được sung làm lưu Kinh đại thần, kiêm Binh bộ Thượng thư.
Năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), Hoàng Hữu Thường chuyển qua Lễ bộ Thượng thư.
Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), ông được cho lãnh Hiệp biện Đại học sĩ. Tháng 7 năm ấy, Hoàng Hữu Thường lại đổi sang Binh bộ Thượng Thư, kiêm Giảng quan Quốc Sử Quán Phó Tổng Tài, kiêm Văn Thần Phò mã Quốc Tử Giám sự vụ. Ông làm chưa được bao lâu thì lâm bệnh và mất.
Quá trình phục vụ
Giải nghĩa các chức quan của ông theo trình tự được bổ nhiệm như sau:
- Hàn lâm viện Biên tu (chánh Thất phẩm) giúp cho Viện trưởng chăm lo việc biên tập, tu chỉnh, kiểm duyệt sách vở văn chương tài liệu.
- Binh bộ Biện lý sự vụ là chức quan thay mặt cho bộ Binh để giám sát binh lính
- Bố chính sứ là chức quan đứng đầu ty Bố chính - một ty thuộc bộ Hộ và lãnh trọng trách tại cấp dinh, trấn và tỉnh. Ty Bố chính phụ trách các vấn đề tài chính, hành chính như thuế khóa, đinh điền, đê điều, hộ tịch lẫn trọng trách truyền đạt chính sách và chủ trương của triều đình.
- Tham biện Nội các là viên quan trong Nội các, phụ trách các công việc về hành chính như văn thư, chiếu chỉ và các giấy tờ khác.
- Quang lộc tự là cơ quan phụ trách việc cung cấp và nấu rượu lễ, đồ lễ, đồ ăn trong các bữa tế tự, triều hội, yến tiệc cung đình, yến tiệc ân vinh Tiến sĩ.
Hồng lô tự là cơ quan phụ trách việc tiếp đãi các sứ đoàn ngoại quốc, cung ứng nơi ăn ở, tiếp đón các sứ đoàn
Cũng như các tự khác trong Lục tự, Quang lộc tự do quan Tự khanh đứng đầu thuộc trật Tòng tam phẩm. - Tham biện Cơ mật viện là viên quan cấp cao bậc phó làm ở Viện Cơ mật - chuyên tham mưu cho nhà vua về những vấn đề trọng yếu, quan trọng, đặc biệt là về quân sự
- Tả & Hữu Tham tri là 2 người phụ giúp Thượng thư trong 1 bộ, tương đương chức Thứ trưởng ngày nay – Hàm Tòng nhị phẩm văn ban
- Khâm Sai đại thần: khi triều đình cần một vị đại thần đảm nhận tạm thời công việc về nội chính hoặc ngoại giao, vua sẽ đặc phái vị đại thần này là Kham Sai. Sau khi hoàn tất công việc thì chức vụ tạm thời này sẽ được trả lại hoặc xóa đi.
- Hiệp biện Đại học sĩ (tòng nhất phẩm) giúp việc cho 4 Đại học sĩ - 4 quan chức cao cấp nhất hay còn gọi là Tứ trụ triều đình.
- Quốc sử quán - Tổng tài: sẽ cũng với Giám tu chỉ đạo và chịu trách nhiệm về việc biên soạn chính sử trước nhà vua. Các vị này đa số đều kiêm nhiềm nhiều chức, nên có mặt tại Quốc sử quán không thường xuyên
- Giảng quan Quốc tử giám: cùng với quan tế tửu giảng dạy cho con cháu trong hoàng tộc, quan chức và những người đỗ tú tài.
“Hữu” Thường
Một hôm vua Tự Đức ngự giá trên sông Hương, xuôi thuyền Rồng đến hóng mát tại vừa Dữ Giã Viên cùng với các quan trong triều đình trong đó có Hoàng Hữu Thường. Nhà vua sực nhớ hoàn cảnh gia đình của ông, bèn chỉ về thửa đất ở Cồn Giã Viên nằm trong lòng sông Hương (hai bên kia bờ là Phường Đúc & Kim Long) và phán rằng: Ta ban cho ông Thường dãi đất đằng kia để lập nghiệp. Ngài vừa mừng, trong lòng vẫn áy náy tự hỏi tại sao mình được nhà Vua ban ân nhiều như thế!?
Gần 5 năm sau khi Ông Tôn Thất Thuyết muốn dời nơi ở về phía Vỹ Dạ, bèn chuyển nhượng khu đất hiện nay cho Ngài. Trên khu đất nầy lúc đó có hai dãy nhà đối diện, sau đó Ngài tháo dỡ dãy nhà về phía bên phải (đứng trong nhìn ra) dựng lại ngôi nhà thờ hiện nay để thờ phụng TỔ TIÊN.
Ngài vốn là người thông minh, học rộng tài trí, đức độ, tính liêm khiết,
chí công vô tư, nên Ngài đã vào bái kiến nhà vua trình bày sự việc. Sau một hồi suy nghĩ, nhà vua phán rằng: Trong Triều chắc chỉ có nhà ngươi là không có lòng tham, nay ta gọi ngươi là Hoàng Hữu Thường thay vì Hoàng Ngọc Thường. Hàm ý của nhà vua : chữ HỮU là “chỉ có”, (trong Triều đình chỉ có Ông Thường là một Ông quan liêm khiết, chí công vô tư). Từ đó con cháu của Ngài đổi chữ lót từ “Hoàng Ngọc” thành “Hoàng Hữu”!
Vị Thượng Thư Có Xuất Thân & Sự Nghiệp Độc Nhất
Tiến sĩ Hoàng Hữu Thường là một hiện tượng lạ, đầy thú vị trong lịch sử quan chế triều Nguyễn. Sự nghiệp của ông, dù chỉ kéo dài hơn một thập kỷ, lại đạt đến những đỉnh cao khó tin và để lại những dấu ấn không thể phai mờ.
Chỉ sau 13 năm đỗ Tiến sĩ (1875 – 1888), ông đã đạt đến hàm thự Hiệp biện Đại học sĩ (quan hàm Nhất phẩm - cấp bậc cao nhất trong triều đình).
Dù giữ nhiều chức vụ Thượng thư quan trọng và được vua quan tin tưởng, ông lại ít được biết đến rộng rãi so với các danh thần khác. Có lẽ lý do nằm ở bản chất công việc và sự ra đi sớm đầy đáng tiếc của ông.
Công tác Bắc Kỳ: Ở giai đoạn đầu làm quan, ông thường xuyên được phái ra Bắc Kỳ để xử lý các công việc phức tạp liên quan đến kinh tế và ngoại giao tại khu vực chịu ảnh hưởng Pháp. Việc hoạt động liên tục tại các tỉnh xa, trong các khu vực chiến sự và biến động chính trị, đã khiến ông xa rời kinh thành Huế và không tham gia nhiều vào các sự kiện chính trị trung tâm thường được sử sách ghi chép.
Mất Sớm: Ông mất vào năm 1888, khi mới 45 tuổi. Sự nghiệp của ông bị rút ngắn chỉ sau 13 năm đỗ đạt, ngay tại đỉnh cao quyền lực.
Sự ra đi sớm đã ngắt quãng một sự nghiệp đang trên đà phát triển đỉnh cao, khiến tên tuổi ông ít có cơ hội được khắc sâu vào sử sách bằng các danh thần sống thọ hơn và hoạt động tại kinh đô lâu hơn.
Tuy nhiên, điều khiến tên tuổi ông trường tồn chính là công lao khai hoang và lập làng Quảng Tế cho người vạn đò. Hành động này không chỉ thể hiện tài năng của ông đã cảm phục được nhà vua mà còn là minh chứng rằng, dù ở đỉnh cao quyền lực, vị Thượng thư xuất thân nghèo khó vẫn không quên cội nguồn, dùng vinh quang cá nhân để kiến tạo cuộc sống mới và bền vững cho cả cộng đồng xuất thân của mình.
* Trích & Tham khảo "Vị khoa bản xuất thân từ vạn đò" - Dương Phước Thu in trong tập “Nhìn từ Huế” (NXB Hội Nhà văn, 2016)